Theo nghiên cứu Toàn cảnh ngành thực phẩm - đồ uống Việt Nam năm 2018 của Vietnam Report, ngành thực phẩm và đồ uống hiện chiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng tăng lên; Đồng thời đang chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chi tiêu hàng tháng của người tiêu dùng (chiếm khoảng 35% mức chi tiêu).
Top 3 Thương Hiệu Trà Sữa Nổi Tiếng Đang "Công Phá" Thị Trường Việt Nam 1.Trà sữa Ding tea. Con tem này với dòng chữ "Mr. Logo Ria Mep "mang đến Việt Nam thực đơn gần 50 món đồ uống với. món giá bình dân. , nhanh chóng chiếm được cảm tình của mọi người với quy
Đã thích (314) Sách Hashtag 01 Kinh Doanh Đồ Uống Tại Thị Trường Việt Nam. 4.9. 73. đánh giá. 262. đã bán. ₫200.000. ₫170.000.
Nestlé hướng tới mục tiêu đưa thị trường Việt Nam trở thành trung tâm cung ứng thưc phẩm và đồ uống của thế giới 08/11/2021 Là tập đoàn lớn số 1 quốc tế kết nối và đồng cảm địa phương, Nestlé cam kết liên tục lan rộng ra những hoạt động giải trí đầu tư với mong ước góp phần nhiều hơn vào sự
CNN đã bình chọn 50 món ăn và đồ uống đường phố được yêu thích nhất và nên thử nhất tại châu Á (chưa bao gồm Trung Đông và Trung Á), trong đó Việt Nam có đến 3 đại diện. Đại diện đầu tiên của Việt Nam trong danh sách này là bánh mì.
KHU VỰC 1 THỊ TRƯỜNG LÕI NỘI ĐỊA VIETNAM Việt Nam là điểm khởi đầu của hệ sinh thái VIN - nơi có nền văn hóa cà phê đặc sắc, đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng xuất khẩu, dẫn đầu về loại Robusta trứ danh. KHU VỰC 2 THỊ TRƯỜNG Á - ÚC ASIA & OCEANIA (EXCL. VIETNAM)
xS1RBz. Tiềm năng thị trường Trước đại dịch COVID-19, thị trường bia rượu nước giải khát Việt Nam là một thị trường giàu tiềm năng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội. Những con số không nói dối về sự phát triển của ngành hàng này, khi ước tính đến đến cuối năm 2020, Việt Nam có khoảng cơ sở sản xuất nước giải khát cung cấp việc làm trực tiếp cho hơn lao động và việc làm gián tiếp cho hàng triệu lao động. Trong khi đó, giai đoạn 2015 – 2019 được xem là giai đoạn hoàng kim của ngành hàng này. Theo Euromonitor, giai đoạn này, thị trường tăng trưởng trung bình 8,4%/năm. Dù còn kém xa mức 40 lit/người/tháng của thị trường thế giới, song, thị trường đồ uống Việt vẫn cho thấy tiềm năng to lớn, chiếm tỉ trọng 4,5% trong nhóm ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ, đóng góp gần 50 nghìn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Một viễn cảnh tươi sáng cho ngành hàng này cho đến khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Theo Tổng cục Thống kê, kết quả sản xuất, kinh doanh và lao động của ngành đồ uống năm 2020 có sự sụt giảm đáng kể so với năm 2019. Cụ thể, doanh thu toàn ngành năm 2020 giảm mạnh tới 17% so với năm 2019; còn doanh thu của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 19% so với năm 2019. Doanh số sụt giảm, dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng về lợi nhuận. So với năm 2019, lợi nhuận trung bình của ngành nước giải khát năm 2020 giảm đến 94,96%. Tác động của dịch COVID-19 cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc làm của người lao động trong ngành sản xuất và kinh doanh nước giải khát khi số lượng lao động giảm 4%, trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đã phải cắt giảm 7% số lượng lao động. Cũng trong năm 2020, mức giảm về thu nhập trung bình của lao động trong ngành nước giải khát là 7% so với năm 2019. Năm 2021, doanh thu thuần của ngành nước giải khát giảm 4,8% so với năm 2020 trong khi lợi nhuận thuần của ngành này giảm tới 31,4%. Đối diện với khó khăn Đã có nhiều nét phác sáng sủa cho khả năng phục hồi và tăng trưởng của bức tranh thị trường đồ uống trong năm 2022. Tuy nhiên, gam màu chủ đạo vẫn ảm đạm, trong bối cảnh chiến tranh Nga – Ukraine căng thẳng, lạm phát và vật giá leo thang. Theo khảo sát thực tế, giá bia rượu và nước giải khát đã tăng lên đáng kể từ khi thị trường mở cửa trở lại sau thời gian phong tỏa vì đại dịch. Đơn cử như Heineken, sản phẩm chủ lực của công ty Heineken Việt Nam đang có giá trên dưới đồng/lon 330ml, tùy nơi bán, sản phẩm Heineken Silver có giá đồng/lon 330ml. "Người anh em" của Heineken là Tiger cũng không kém cạnh, với mức giá xoay quanh mốc đồng/lon 330ml dành cho 3 dòng sản phẩm Tiger, Tiger Crystal và Tiger Platinum.... Bà Ngân, chủ một cửa hàng tạp hóa trên địa bàn quận Bình Tân tiết lộ với phóng viên, trung bình một tháng, cửa hàng của bà bán không dưới 30 thùng nước giải khát và 50 thùng bia mỗi loại. Con số có thể cao hơn ở các tháng 6, 7, 8 những tháng được xem là khô nóng đỉnh điểm. Tuy nhiên, thời gian gần đây doanh số bắt đầu chững lại và hàng đi nhỏ giọt, không còn đều đặn như trước. Theo bà Ngân, giá bia và nước ngọt tăng là một phần nguyên nhân khiến cho doanh số ngành hàng này không còn được cao như trước. Nhiều chủ đại lý như bà cũng không dám nhập hàng về quá nhiều trong một đợt mà phải đợi đẩy hết hàng tồn. Trong khi đó, ở góc độ người tiêu dùng, chị Bùi Thị Ngọc ngụ Tân Bình cho biết "Ông xã tôi thích uống bia trong mỗi bữa cơm nên tôi luôn mua bia để tủ lạnh. Hồi trước còn chứ giờ đã tăng lên tới đồng. Tình hình giá cả này thì có thể tôi sẽ phải tính toán cắt bia của ông xã bù vào tiền sữa cho các con". Theo các chuyên gia, việc giá cả thị trường tăng cao là điều tất yếu khi giá nguyên vật liệu đầu vào đều leo thang. Chi phí sản xuất tăng, chi phí nhân công, vận hành cũng phải tăng… dẫn đến tình trạng chung của toàn thị trường. Các chuyên gia cũng cho rằng trụ cột của thị trường tiêu dùng hiện tại là Gen Y 1981 – 1995 và Gen Z 1996 – 2014. Đây cũng là đối tượng khách hàng chính của ngành hàng mang tính đặc thù này. Nếu như gen Y phần nào đã trải qua những khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2008 – 2010, thì gen Y, thế hệ sinh ra và lớn lên cùng công nghệ sẽ lần đầu đối mặt với cuộc khủng hoảng sắp tới. Theo Forbes, khía cạnh trải nghiệm của thế hệ trẻ đang thay đổi. Khảo sát Gen Z và Millennial Gen Y năm 2022 của Deloitte cho thấy mối lo lớn nhất là nển tảng tài chính bấp bênh của họ trong thế giới ngày càng đắt đỏ. Còn mối quan tâm cấp bách nhất của thế hệ này không còn là nhu cầu trải nghiệm, hưởng thụ cuộc sống nữa. Sự chuyển dịch mối quan tâm trong khảo sát cho thấy thực tế thị trường. Khi chi phí sinh hoạt, bao gồm tiền thuê nhà, phương tiện đi lại và các hóa đơn điện, nước mới là mối quan tâm hàng đầu của 29% những người lao động ở độ tuổi Gen Z. Trong khi đó, 46% chia sẻ rằng toàn bộ thu nhập của họ chỉ đủ chi trả sinh hoạt phí, không dành dụm được đồng nào. Chỉ 25% số này có thể thoải mái chi tiêu hàng tháng. Trong một hội thảo gần đây, bà Chu Thị Vân Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Bia – Rượu – Nước Giải Khát Việt Nam cho biết, trong giai đoạn khó khăn của thị trường, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã có những tác động tích cực nhất định, phần nào cải thiện tình trạng khó khăn của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các gói hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động lần thứ nhất tuy kịp thời, nhưng chưa có tác động rõ nét đến doanh nghiệp, mức độ hấp thụ của doanh nghiệp rất thấp. Một số chính sách giãn thuế, bảo hiểm xã hội, tiền thuê đất,… đối với doanh nghiệp tuy đã giúp doanh nghiệp bớt nỗi lo về thanh khoản, dòng tiền nhưng thời gian áp dụng ngắn, số lượng không lớn nên chưa thể giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Đáng chú ý, có nhiều gói hỗ trợ nhằm kích thích tiêu dùng, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh thông qua giảm một số loại phí như Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020, nhưng lại không có cơ chế riêng nào áp dụng đối với ngành đồ uống nói chung cũng như ngành nước giải khát nói riêng. Người đại diện của Hiệp hội cho biết, cần chú trọng việc duy trì sự ổn định về các chính sách thuế đối với những ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch trong thời hạn ít nhất là 5 năm tới, không mở rộng đánh thuế mới theo hướng bất lợi hơn cho doanh nghiệp nước giải khát đã và đang bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh. Bà Chu Thị Vân Anh cũng lưu ý rằng, với độ co giãn của cầu theo giá, việc tăng hay áp thêm thuế dẫn tới tăng giá hàng hóa sẽ ảnh hưởng tới sức mua và tiêu dùng nội địa và từ đó sẽ tác động tiêu cực đến sản xuất, doanh thu từ hoạt động kinh doanh, mức đóng góp thuế và cơ hội việc làm của người lao động. "Việc tăng thuế hoặc bổ sung thêm các đối tượng chịu thuế TTĐB sẽ đẩy giá một số mặt hàng và dịch vụ lên cao, tăng khả năng lạm phát, trong khi có thể không giúp tăng thu ngân sách. Ví dụ, theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương năm 2018, nếu áp thuế tiêu thụ đặc biệt 10% đối với đồ uống có đường, doanh thu của ngành đồ uống sẽ giảm tỷ đồng, đồng thời gây ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực chuỗi cung ứng cũng như toàn bộ nền kinh tế", bà Chu Thị Vân Anh nhận định. Cụ thể, giá trị nền kinh tế được dự báo sẽ giảm 0,14%; GDP giảm 0,12%; thu nhập từ sản xuất giảm 0,16%; cơ hội việc làm giảm 0,11%; và thuế gián thu từ ngành sản xuất có thể giảm từ 0,07 đến 0,09%. Như vậy, sau giai đoạn hoàng kim tăng trưởng mạnh, thị trường đồ uống Việt Nam có thể sẽ phải tiếp tục đối mặt với viễn cảnh khó khăn trong năm 2022.
Thị trường đồ uống tại Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú và ngày càng có nhiều đồ uống mới được ra đời. Trong đó, những loại đồ uống phổ biến nhất hiện nay là đồ uống có ga, cà phê, nước ngọt, bia, rượu, nước suối,… Vậy, cụ thể đặc điểm và tính chất của thị trường trường này như thế nào? Hãy cùng bài viết sau đây tìm hiểu thị trường đồ uống hiện nay khúc thị trường đồ uống được chia theo tính chất các loại đồ uống như cụm đồ uống có cồn hay đồ uống có ga. Và phân khúc chiếm phần lớn tổng sản lượng đồ uống hiện nay tại Việt Nam là đồ uống có cồn như rượu, bia,… chiếm 70%. Với con số khổng lồ này, Việt Nam cũng là nước có lượng tiêu thụ rượu bia lớn nhất thế giới với trung bình mỗi người uống 42 lít bia mỗi trường đồ uống hiện nay tại Việt Nam rất phong phú và đa dạng với các loại đồ uống có cồn, đồ uống có ga, nước ngọt,…Bên cạnh đó, các loại đồ uống như nước ngọt, sữa,… thường được lứa tuổi thiếu nhi hoặc nữ giới ưa chuộng. Phân khúc đồ uống này có ổn định tương đối cao, chỉ sau cà phê mà thôi. Hai số nhãn hàng được ưa chuộng nhất hiện nay là Coca Cola và đồ uống cuối cùng phải kể đến chính là cà phê. Đây là loại đồ uống không thể thiếu tại mỗi công ty, trường học bởi tính chất kích thích thần kinh, giúp con người tỉnh táo thông qua chất caffeine có trong nó. Thị trường cà phê cạnh tranh khá khốc liệt với nhiều thương hiệu khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, lượng tiêu thụ cà phê khá ổn định và tăng nhẹ theo từng năng phát triển thị trường đồ uốngNhu cầu đời sống của người dân tại Việt Nam đang được nâng cao rõ rệt. Kéo theo đó là nhu cầu sử dụng những sản phẩm đồ uống cao cấp, sang trọng, ngon, bổ dưỡng và phải tuyệt đối an toàn tới sức khỏe. Do đó, theo các chuyên gia tìm hiểu thị trường đồ uống hiện nay, các loại đồ uống thường dành cho giới thượng lưu đang dần trở nên phổ biến với mọi đối trường đồ uống có tiềm năng phát triển rất cao và tập trung vào các sản phẩm cao cấp, có lợi cho sức khỏeNgoài ra, Việt Nam là đất nước có người dân quan tâm tới sức khỏe cá nhân cũng như sức khỏe cộng đồng rất nhiều. Vì thế, các nhà sản xuất đang phải điều chỉnh lại lượng đường, phẩm màu, nồng độ cồn,… sao cho phù hợp với mục đích sử dụng của người tiêu dùng mà lại không mang lại bất cứ ảnh hưởng xấu nào. Minh chứng rõ nét nhất chúng ta có thể thấy chính là nhãn hàng Coca Cola đã cho ra sản phẩm có hương vị nguyên bản và ít lại, sau khi tìm hiểu thị trường đồ uống hiện nay, chúng ta có thể kết luận rằng phân khúc thị trường đồ uống và lượng tiêu thụ tập trung vào các sản phẩm có cồn như rượu, bia, vodka,… Bên cạnh đó, thị trường đồ uống rất có tiềm năng phát triển và được dự đoán sẽ là ngành tiêu dùng tăng trưởng cao nhất tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Cụ thể hơn, mức tiêu thụ nước giải khát chỉ đạt 81,6 tỷ lít vào năm 2016 nhưng có triển vọng đạt 109 tỷ lít vào năm 2020.
Kinh doanhDoanh nghiệp Thứ ba, 31/12/2019, 1700 GMT+7 Liên minh nước giải khát Nhật - Mỹ với 13 nhãn hàng, tạo lập hình ảnh doanh nghiệp năng động, có trách nhiệm với xã hội sau 25 năm. 17 giờ ngày 3/2/1994, khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Chỉ 7 tiếng sau đó, những chai Pepsi đầu tiên đã lăn trên băng chuyền của nhà máy Công ty Nước giải khát Quốc tế IBC - tiền thân của PepsiCo, nay là Suntory PepsiCo Việt Nam SPVB. "Việt Nam khi đó mới mở cửa nền kinh tế thị trường, khái niệm FDI vẫn còn xa lạ và khả năng thành công vẫn là một ẩn số với các doanh nghiệp ngoại. Nhưng với kinh nghiệm dạn dày, PepsiCo kiên định kế hoạch vào Việt Nam, trở thành một trong những nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên đặt niềm tin vào thị trường này", đại diện PepsiCo nhớ lại. Phát biểu tại một sự kiện sau này, ông Barry - Chủ tịch Pepsi-Cola khu vực Đông Nam Á khẳng định "Vào thời điểm đó, chúng tôi đã biết PepsiCo sẽ có cơ hội thống lĩnh thị trường này". Công ty Nước giải khát Quốc tế IBC - tiền thân của SPVB ngày nay. Nhà máy SPVB đầu tiên được xây dựng tại Hóc Môn TP HCM với nhân sự ban đầu chỉ hơn 100 người. Sản phẩm nước giải khát đóng chai khi đó vẫn còn là một mặt hàng khá mới mẻ. Đội ngũ kinh doanh và marketing của hãng đã làm việc ngày đêm để giới thiệu thứ nước uống lạ lẫm đến từng người tiêu dùng Việt. Những năm 90, nước giải khát đóng chai là sản phẩm nằm ngoài tầm với của nhiều hộ gia đình. Hãng ước tính để thưởng thức một chai Pepsi, người dân phải bỏ ra số tiền tương đương một phần 6 thu nhập trung bình trong ngày. Pepsi tại thị trường Việt Nam những năm 1990. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nước giải khát từ hàng hóa xa xỉ đã trở thành sản phẩm thân quen trong đời sống người Việt. Bước ngoặt đến với SPVB vào năm 2013, khi liên minh chiến lược nước giải khát Suntory PepsiCo Việt Nam được thành lập giữa Tập đoàn Suntory doanh nghiệp hơn 100 tuổi của Nhật Bản và PepsiCo Mỹ. Cũng trong năm này, sản phẩm trà đóng chaiTEA+ Plus - đứa con tinh thần vốn được yêu thích của Suntory tại Nhật Bản - chính thức ra mắt thị trường Việt Nam. Minh chứng cho cam kết lâu dài của mình tại Việt Nam, PepsiCo và sau này là SPVB đã đầu tư lớn vào thị trường. Từ 110 triệu USD 1998-1999 - thời điểm tái cấu trúc với 100% vốn thuộc về PepsiCo, hãng đã mua bán sáp nhập cũng như xây mới nhiều nhà máy triệu đô tại Cần Thơ, Bắc Ninh, Quảng Nam... Trong 10 năm trở lại đây, SPVB ước tính đã đầu tư hơn 500 triệu USD vào Việt Nam. Nhà máy Quảng Nam với vốn đầu tư 76 triệu USD, khánh thành năm 2017. SPVB từng vào Top 100 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam các năm 2016, 2017, 2018; Top 5 công ty đa quốc gia hàng tiêu dùng nhanh có môi trường làm việc tốt nhất Việt Nam năm 2017, 2018; Top 3 doanh nghiệp uy tín ngành đồ uống tại Việt Nam năm 2017, 2018, 2019. Từ 2 sản phẩm ban đầu khi mới vào Việt Nam năm 1994, đến nay SPVB có 13 nhãn hiệu nổi tiếng như Pepsi, trà Ô Long TEA+ Plus, Aquafina, Sting, Lipton Ice Tea... Quy mô của liên minh ngày càng mở rộng với 5 nhà máy, 5 văn phòng đại diện, lao động chính thức và hàng nghìn lao động gián tiếp khắp cả nước. Nhìn lại hành trình 25 năm, đại diện Suntory PepsiCo khẳng định "Suntory PepsiCo Việt Nam luôn hướng tới giữ vững vị trí là một trong các công ty đầu ngành; đồng thời đóng góp tích cực cho nền kinh tế và xã hội của địa phương". Phong Vân
Cửa hàng tiện lợi là một trong những kênh bán lẻ hiệu quả. Ảnh Bùi Giang/TTXVN Thực phẩm và đồ uống nằm trong nhóm ngành hàng tiêu dùng nhanh. Trong nhiều năm qua, đây luôn là một trong những ngành kinh tế quan trọng và nhiều tiềm năng phát triển với tốc độ tăng trưởng được dự báo từ 5-6%/năm trong giai đoạn 2020-2025 như nhận định và đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế. Với tình hình kinh tế vĩ mô ổn định và các cam kết quốc tế đã ký giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu EVFTA, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP... đã mở ra cơ hội xuất khẩu và thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều hơn; cũng như việc chuyển giao công nghệ và cải thiện trình độ khoa học kỹ thuật cho ngành này tốt hơn bao giờ hết. Cùng với đó, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thực phẩm và đồ uống cũng liên tục có sự chuyển mình theo hướng tích cực, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng gồm nhà, xưởng, kho tàng, bến bãi hay hiện đại hóa quy trình sản xuất và quản trị doanh nghiệp. Dù đang đang trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhưng đây cũng là thời điểm được cho rằng có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ đối với ngành thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam. Nhất là khi hiện nay, người tiêu dùng đang ngày càng có xu hướng chú trọng hơn tới các thực phẩm dinh dưỡng có nguồn gốc thực vật, thực phẩm hữu cơ hay những thành phần dinh dưỡng lành mạnh, tiện dụng... [Nhiều siêu thị, cửa hàng, chợ bán hàng trở lại, giá cả ổn định] Cùng với đó là sự dịch chuyển thói quen từ ăn uống tại nhà hàng sang tại nhà và những mối lo ngại về thực phẩm nhập khẩu... khiến cho dự báo nhu cầu tiêu dùng của một số nhóm thực phẩm đồ uống không ngừng tăng nhanh và được dự báo sẽ có nhiều bứt phá trong năm 2021 và nhiều năm tiếp theo. Một khảo sát nhanh do Vietnam Report mới tiến hành cuối năm 2020 cho thấy, trước sức ép của dịch COVID-19, 50% khách hàng đã chi tiêu nhiều hơn cho các loại thực phẩm tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch cũng như các thực phẩm sạch, lành mạnh... Trong khi đó, 63,7% khách hàng lại cắt giảm chi tiêu cho rượu, bia. Chính vì thực tiễn ấy, các doanh nghiệp ở ngành này đang phải điều chỉnh công suất hoạt động cho phù hợp. Theo đó, các doanh nghiệp ngành thực phẩm phải tăng công suất hoạt động lên khoảng 30% nhưng trái lại các doanh nghiệp đồ uống phải giảm năng lực sản xuất xuống dưới mức 80% so với trước khi có đại dịch. Rõ ràng rằng, hầu hết các doanh nghiệp ngành thực phẩm, đồ uống đã và đang phải chịu nhiều ảnh hưởng của dịch COVID-19. Ông Vũ Đăng Vinh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam cho hay, lãnh đạo một số doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống cho rằng quy mô doanh nghiệp trong ngành còn khá phân mảnh, tiềm lực tài chính yếu nên khi gặp một cú sốc lớn như COVID-19 thường dễ vào vòng luẩn quẩn do phải xử lý dòng tiền, cắt giảm nhân sự hay cắt giảm chi phí... Thêm vào đó, hoạt động của các doanh nghiệp này vẫn thiếu sự quy hoạch đồng bộ, thiếu cơ quan chủ quản nên vẫn phát triển theo xu hướng "mạnh ai nấy làm" hay chủ yếu hoạt động theo mô hình "ngôi làng"... Tuy nhiên, về cơ bản, nhu cầu ăn uống của con người là khó thay đổi, khi chấp nhận "sống chung với bão," doanh nghiệp cần đối mặt với bài toán thiếu hụt nhân sự, sản xuất không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường và điều quan trọng là doanh nghiệp học được gì từ những cú sốc như thế này?, ông Vinh nhấn mạnh. Người tiêu dùng mua sắm thực phẩm chế biến sẵn tại cửa hàng bán lẻ. Ảnh Mỹ Phương/TTXVN Hiện nay, chính nhờ COVID-19 đã tạo cú huých để gần 70% doanh nghiệp ngành thực phẩm đồ uống tập trung mạnh mẽ vào công cuộc chuyển đổi số, ông Vinh cho biết. Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng và ứng dụng quy trình công nghệ hiện đại trong sản xuất và quản lý nên đã tỏ ra khá vững vàng trong khủng hoảng. Trừ những công nhân trực tiếp sản xuất tại các nhà máy buộc phải làm luân phiên theo ca còn tất cả các hoạt động khác của doanh nghiệp đều có thể được điều khiển và giám sát từ xa thông qua các phần mềm, ứng dụng và hệ thống camera như xuất kho, nhập kho, giao nhận, bán hàng, phân phối hay thậm chí là hội nghị, họp hành... Cũng có rất nhiều doanh nghiệp ngành thực phẩm đồ uống đang tận dụng dịp này để đẩy nhanh việc đầu tư cho các hoạt động đổi mới sáng tạo. Đổi mới từ hệ thống phân phối và điều chỉnh tỷ trọng giữa kênh truyền thống và kênh hiện đại; phát triển các ứng dụng để tăng cường trải nghiệm khách hàng khi mua sắm hay đổi mới từ thiết kế bao bì, nhãn hiệu sản phẩm thân thiện với môi trường; đổi mới từ việc phát triển các dòng sản phẩm để tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch hơn cho người tiêu dùng... Ông Nguyễn Đăng Quang, Chủ tịch Tập đoàn Masan, cho hay trong khó khăn, nhiều doanh nghiệp ngành thực phẩm đang tiên phong tìm kiếm các giải pháp, hướng đi mới để sẵn sàng vượt lên đại dịch. Để hạn chế tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm, sốt giá các nhà máy chế biến thực phẩm của Masan đang chạy hết công suất, đặc biệt là sản xuất thịt lợn. Nếu ở góc nhìn lạc quan, dịch bệnh COVID-19 chính là thời cơ tốt để thúc đẩy thương mại điện tử. "Tập đoàn đang có kế hoạch để làm sao ngày càng nhiều người dân lựa chọn cách thức mua hàng trực tuyến, ngồi tại nhà vẫn có thể được phục vụ, chứ không cần trực tiếp đến các siêu thị mua sắm nếu có nhu cầu," ông Quang nhấn mạnh. Trước thực tiễn của đại dịch và nhu cầu gia tăng của khách hàng, theo ông Vinh, các doanh nghiệp ngành thực phẩm đồ uống cần tập trung ưu tiên cho một số chiến lược như tăng trưởng doanh thu, phát triển thị trường hiện tại, đẩy mạnh nghiên cứu và nâng chất sản phẩm, đa dạng hóa nguồn cung ứng ưu tiên các nhà cung cấp trong nước; đồng thời mở rộng, phát triển các kênh phân phối trực tuyến online trên nền tảng thương mại điện tử. Đây là sự đúc kết từ chính những sai lầm, khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình ứng phó với dịch COVID-19 trong năm qua, ông Vinh nhấn mạnh./.
Thị trường đồ uống Việt Nam ngày càng được đa dạng hóa và được dự báo sẽ tăng trưởng tốt trong thời gian tới. Nội DungTiềm năng tăng trưởng thị trường thức uống Việt NamPhân khúc thị trường đồ uống Việt NamNhững ông lớn trong thị trường đồ uống Việt NamTruyền thông trong thị trường đồ uống Với tốc độ tăng trưởng hàng năm của thị trường thức uống được dự báo là 6% đến năm 2020, ngành công nghiệp đồ uống tại Việt Nam là một trong những ngành hàng tiêu dùng nhanh tăng trưởng cao nhất. Tiêu thụ nước giải khát ước tính đạt 81,6 tỷ lít vào năm 2016 với triển vọng đạt 109 tỷ lít vào năm 2020. Yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng Người tiêu dùng Việt Nam đang chuyển sang tiêu thụ đồ uống có giá trị cao hơn, tạo ra những khoảng trống để thâm nhập vào các phân khúc đồ uống cao cấp. Mặc dù cả các công ty trong và ngoài nước đã cố gắng hành động để đáp ứng với sự thay đổi này, các công ty nước ngoài hiện đang gặp khó khăn do việc sử dụng các thương hiệu quốc tế của người tiêu dùng Việt Nam. Bên cạnh sự cải thiện về hồ sơ nhân khẩu học, cần lưu ý rằng người tiêu dùng Việt Nam là những người có ý thức về sức khỏe nhất ở Đông Nam Á, kêu gọi các nhà sản xuất bắt đầu suy nghĩ lại về các dịch vụ thị trường nhằm điều chỉnh danh mục sản phẩm tốt cho sức khỏe như nước ép trái cây hoặc trà thảo dược. Với tỷ lệ dân số trẻ ngày một cao ước tính khoảng trên 50% dân số Việt Nam dưới 30 tuổi, mức thu nhập được cải thiện và thói quen mua sắm thực phẩm chế biến sẵn ngày càng phổ biến, sự phong phú cùng với sự dồi dào các sản phẩm nông nghiệp – nguồn nguyên liệu thô cung ứng cho hoạt động chế biến thực phẩm, đồ uống… đang là những lợi thế để các doanh nghiệp trong ngành đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Phân khúc thị trường đồ uống Việt Nam Trên thị trường đồ uống, đồ uống có cồn gồm bia, rượu vang, rượu mạnh là ngành hàng lớn nhất, chiếm tới hơn 70% tổng giá trị bán lẻ đồ uống. Mặc dù nhận được mức tăng trưởng kép hàng năm khiêm tốn CAGR là 3,5% cho đến năm 2020, ngành bia ở Việt Nam được coi là có cơ hội lớn để đầu tư vì mức tiêu thụ của đất nước nằm trong top 10 của khu vực châu Á và có mức tiêu thụ bình quân đầu người thuận lợi ở mức 42 lít vào năm 2020. Các ngành rượu và rượu mạnh và đồ uống không cồn cũng được dự báo có tỷ lệ 8% – và 6,1% dự báo của BMI, tốc độ tăng trưởng thực tế về sản lượng tiêu thụ bia sẽ vượt mức 24,9% vào năm 2018. Xét về tốc độ tăng trưởng, cà phê là sản phẩm có mức tăng cao nhất trên 14%, do cà phê đang dần trở thành “sự lựa chọn hàng đầu của giới trẻ” tại Việt Nam trong thời gian vừa qua. Đồng thời, sự gia tăng về thu nhập của nhóm đối tượng này cũng đòi hỏi các sản phẩm có giá trị chất lượng cao hơn, thúc đẩy sự tăng trưởng cả về chất và lượng của ngành cà phê. Cũng là sản phẩm chủ yếu dành cho giới trẻ, nước ngọt và nước ngọt có ga cũng đang dần chiếm được thị phần khá lớn và tăng trưởng ổn định chỉ sau cà phê. Cùng với sự phát triển của đồ ăn nhanh tại Việt Nam trong những năm gần đây, đồ uống có ga, điển hình như Pepsi hay Coca Cola, đang phải cạnh tranh khốc liệt để giành sự quan tâm lựa chọn của khách hàng. Không chỉ dừng ở việc tích cực đầu tư cho quảng cáo và định vị thương hiệu thông qua tất cả các kênh truyền thông từ báo in, truyền hình đến internet, các hãng sản xuất đồ uống có ga này cũng đang nỗ lực thay đổi cả mẫu mã và bao bì đóng chai nhằm khác biệt hóa, thu hút khách hàng và tăng doanh thu bán hàng trong năm. Những ông lớn trong thị trường đồ uống Việt Nam Ngày 31/10/2018, Vietnam Report chính thức công bố Top 10 Công ty uy tín ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018. Các công ty được đánh giá, xếp hạng dựa trên 3 tiêu chí chính Thứ nhất, năng lực tài chính thể hiện trên báo cáo tài chính năm gần nhất tổng tài sản, tổng doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn…; Thứ hai, Uy tín truyền thông được đánh giá bằng phương pháp Media Coding – mã hóa các bài viết về công ty trên các kênh truyền thông có ảnh hưởng; Thứ ba, khảo sát người tiêu dùng về mức độ nhận biết và sự hài lòng với các sản phẩm/ dịch vụ của công ty; Khảo sát chuyên gia đánh giá vị thế của các công ty trong ngành; và Khảo sát doanh nghiệp được thực hiện trong tháng 9/2018 về quy mô thị trường, lao động, vốn, tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, kế hoạch hoạt động trong năm 2018… Trong số 10 doanh nghiệp đồ uống uy tín, Tập đoàn Tân Hiệp Phát đứng vị trí thứ 5. Tân Hiệp Phát là doanh nghiệp Việt duy nhất năm trong Top 5 công ty đồ uống uy tín năm 2018 mà chỉ sản xuất sản phẩm nước giải khát không có cồn, không có gas có lợi cho sức khỏe. 4 vị trí dẫn đầu là 2 doanh nghiệp sản xuất bia, 2 doanh nghiệp sản xuất đồ uống có gas là chủ lực. Truyền thông trong thị trường đồ uống Theo nhận định của Vietnam Report, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc kết nối trực tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận diện thương hiệu uy tín tốt hơn khi đưa ra quyết định mua sắm. Tuy nhiên, kết quả phân tích truyền thông cho thấy, sự hiện diện trên truyền thông của các doanh nghiệp ngành thực phẩm, đồ uống hiện còn hạn chế. Chỉ 22,9% số doanh nghiệp được nghiên cứu có lượng thông tin đạt ngưỡng nhận thức, trong đó 44% có tần suất xuất hiện tối thiếu 1 lần/ 1 tháng. Về độ đa dạng thông tin, 27,4% số doanh nghiệp có thông tin bao phủ 10/24 số nhóm chủ đề có liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp. 3 nhóm chủ đề thường được đề cập đến nhiều nhất Tài chính/ Kết quả kinh doanh, Cổ phiếu, Sản phẩm. Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là “an toàn” khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng “tốt nhất” là trên 20%. Trong ngành thực phẩm – đồ uống, hiện có khoảng hơn 40% số doanh nghiệp đạt mức 10% này. Babuki sẵn lòng hỗ trợ, tư vấn anh/ chị về các thông tin thị trường hữu ích, đầu tư/ gọi vốn và giải pháp công nghệ. Anh/ chị có thể BẤM ĐỂ GỬI YÊU CẦU TỚI BABUKI. Các bài viết liên quan về phân tích thị trường Việt Nam
Trước tác động từ làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư, là một trong những ngành kinh tế quan trọng, Thực phẩm – Đồ uống cũng chịu những tác động không nhỏ. Ngày 20/10/2021, Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam Vietnam Report chính thức công bố nghiên cứu về thị trường ngành và Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021. Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc khoa học và khách quan. Các công ty được đánh giá, xếp hạng dựa trên 3 tiêu chí chính 1 Năng lực tài chính thể hiện trên báo cáo tài chính năm gần nhất 2 Uy tín truyền thông được đánh giá bằng phương pháp Media Coding - mã hóa các bài viết về công ty trên các kênh truyền thông có ảnh hưởng; 3 Khảo sát đối tượng nghiên cứu và các bên liên quan người tiêu dùng, chuyên gia… được thực hiện trong tháng 8/2021. Danh sách 1 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2021 - Nhóm ngành Sữa và sản phẩm từ sữa Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021, tháng 10/2021 Danh sách 2 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2021 - Nhóm ngành Đường, bánh kẹo và thực phẩm dinh dưỡng khác Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021, tháng 10/2021 Danh sách 3 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2021 - Nhóm ngành Thực phẩm đóng gói, gia vị, dầu ăn Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021, tháng 10/2021 Danh sách 4 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2021 - nhóm ngành Thực phẩm tươi sống, đông lạnh Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021, tháng 10/2021 Danh sách 5 Top 10 Công ty đồ uống uy tín năm 2021 - nhóm ngành Đồ uống có cồn Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021, tháng 10/2021 Danh sách 6 Top 10 Công ty đồ uống uy tín năm 2021 - nhóm ngành Đồ uống không cồn nước giải khát, trà, cà phê… Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2021, tháng 10/2021 Ngành Thực phẩm - Đồ uống Việt Nam năm 2021 Bức tranh “nhuốm màu” COVID Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vững chắc ở mức 5,6% trong nửa đầu năm 2021, các chỉ số kinh tế vĩ mô duy trì lạc quan và ổn định. Tuy nhiên, tình hình trở nên xấu hơn khi bước sang quý III, diễn biến dịch bệnh trở nên phức tạp hơn với biến thể Delta và Chính phủ buộc phải đưa ra những biện pháp phòng chống dịch quyết liệt hơn theo phương châm “chống dịch như chống giặc”. Theo đó, tổng sản phẩm trong nước GDP quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay. Là một trong những ngành kinh tế quan trọng, Thực phẩm – Đồ uống cũng chịu những tác động không nhỏ. Khảo sát của Vietnam Report thực hiện trong tháng 8/2021 cho thấy bức tranh kinh tế ngành Thực phẩm – Đồ uống F&B đã “nhuốm màu” COVID-19. Tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trước năm 2020, thị trường F&B Việt Nam liên tục tăng trưởng và được đánh giá đầy tiềm năng. Tốc độ tăng trưởng hàng năm CAGR 2021-2025 là 4,98%. Quy mô thị trường dự kiến đạt 678 triệu USD với lượng người dùng dự kiến sẽ đạt 17,1 triệu vào năm 2025. Đứng trước đại dịch COVID-19, hoạt động của nhiều doanh nghiệp trong ngành đã và đang đối mặt với bài toán sống còn. Năm 2020, có gần 48% số doanh nghiệp tham gia khảo sát của Vietnam Report cho rằng không chịu tác động của đại dịch hoặc mức độ tác động ít, không đáng kể. Tuy nhiên, tác động kéo dài của đại dịch đến doanh nghiệp trong ngành trở nên rõ nét hơn sau đợt bùng phát vào tháng 4, và trở nên nghiêm trọng hơn kể từ tháng 7 với tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động ở mức nghiêm trọng đã lên tới hơn 91%. Điều này cho thấy sức chống chọi của doanh nghiệp đã có dấu hiệu đuối dần. Khảo sát cũng phản ánh những khó khăn lớn nhất mà ngành F&B đang phải đối mặt Hình 2. Trong đó, đáng chú ý nhất là vấn đề liên quan đến logistics và phân phối chiếm 91% khi mà một số vùng kinh tế trọng điểm của nước ta buộc phải thực hiện giãn cách xã hội, kéo theo đó là đứt gãy nguồn lao động, nguyên vật liệu và cả chuỗi cung ứng... Một số biện pháp của Chính phủ như mô hình “3 tại chỗ”, “1 cung đường, 2 điểm đến” hay cơ chế “luồng xanh” tỏ ra chưa phù hợp với tất cả các địa phương do đặc điểm mỗi địa phương khác nhau, gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất cũng như lưu thông hàng hóa. Khó khăn về logistics cũng là nguyên nhân khiến cho dự báo kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm nửa cuối năm giảm khoảng 30%. Cụ thể là thời gian và chi phí lưu kho tăng, dễ dẫn đến tình trạng “quá date” trước khi đến tay người tiêu dùng do các mặt hàng này đều có thời gian sử dụng ngắn. Theo đó, các chuyên gia đánh giá COVID-19 đang “ăn mòn” ngành thực phẩm và nông nghiệp. So với năm trước, một số thách thức mới nảy sinh cùng với tác động lâu dài và nghiêm trọng của đại dịch đối với nền kinh tế, đó là Làn sóng lây nhiễm/bùng phát COVID-19 mới 95%; Tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu 60%. Một số thách thức khác đến từ bên trong doanh nghiệp mà trên 35% số doanh nghiệp F&B vấp phải trong quá trình thích ứng với những tác động của dịch bệnh bao gồm 1 Đảm bảo an toàn y tế và lao động tại nơi làm việc; 2 Khả năng nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu chi phí để đáp ứng nhu cầu; 3 Mức giảm quy mô nhân sự/năng suất; 4 Khả năng quản lý hiệu quả các mô hình làm việc từ xa và tại chỗ kết hợp. Trao đổi với Vietnam Report, đại diện một số doanh nghiệp trong ngành cho biết, do đặc thù ngành sử dụng lực lượng lao động lớn, chi phí xét nghiệm cho lao động sẽ trở thành một gánh nặng lớn đối với doanh nghiệp nếu không có được sự hỗ trợ từ Chính phủ. Những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp đang đối mặt Bên cạnh những khó khăn trên, khoảng 17% số doanh nghiệp F&B cho biết đang gặp thách thức về tính thanh khoản. Trả lời phỏng vấn của Vietnam Report, đại diện một số doanh nghiệp trong ngành cho biết, ngay cả khi có lượng dự trữ tiền mặt lớn, các doanh nghiệp lớn trong ngành cũng sẽ gặp khó khăn nếu tình trạng giãn cách xã hội tiếp tục duy trì. Khảo sát mới đây của VnExpress cũng chỉ ra rằng, dòng tiền của 46% doanh nghiệp đã cạn, chỉ đủ để doanh nghiệp duy trì hoạt động từ 1-3 tháng nữa. Triển vọng ngành Thực phẩm – Đồ uống Thận trọng, nỗ lực và tự tin Đánh giá triển vọng ngành trong 6 tháng cuối năm 2021, phần lớn doanh nghiệp tỏ ra thận trọng hơn so với thời điểm cách đây một năm. 78% số doanh nghiệp cho rằng nửa cuối năm kinh doanh sẽ khó khăn hơn, tăng gấp đôi mức 37% của năm trước. Dẫu vậy, có đến 80% doanh nghiệp trong ngành tỏ ra tin tưởng vào sự phục hồi nhanh chóng của Việt Nam sau đại dịch. Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm nay khoảng 3,8%. Đây là mức tăng trưởng rất tích cực trong bối cảnh toàn thể bộ máy chính trị và xã hội nước ta vừa gồng mình chống dịch vừa nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế. Theo đó, các đợt bùng phát dịch hiện nay sẽ dần được kiểm soát, tạo đà cho phục hồi kinh tế vào quý IV năm 2021. Giai đoạn phục hồi cũng sẽ được hỗ trợ bằng việc đẩy nhanh chiến dịch tiêm vắc-xin diện rộng, với ít nhất 70% dân số trưởng thành được tiêm chủng vào giữa năm 2022, giúp ngăn ngừa những đợt bùng phát dịch nghiêm trọng mới. Do vậy, thời gian phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp F&B cũng được dự báo khá tích cực với 47% số doanh nghiệp ước tính mất khoảng 6 tháng, 33% số doanh nghiệp mất khoảng 7-12 tháng và 13% mất nhiều hơn 12 tháng. Đặc biệt, Nghị quyết số 128 của Chính phủ quy định tạm thời "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19" mới được ban hành được coi như một “cú hích” giúp địa phương và doanh nghiệp giải quyết nút thắt về logistics và lao động, từ đó thúc đẩy tốc độ phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Triển vọng ngành F&B trong 6 tháng cuối năm so với 6 tháng đầu năm Trên thực tế, ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam xoay trục chiến lược phòng chống dịch bệnh theo hướng “sống chung an toàn với COVID-19”. Khi các lệnh giãn cách xã hội dần được nới lỏng một cách thận trọng, cộng đồng doanh nghiệp đang bắt đầu làm quen với những đặc điểm mới của thị trường hình thành trong quá trình thích nghi với đại dịch. Trong đó có một số đặc điểm được cho là sẽ hỗ trợ tốt nhất cho doanh nghiệp trong dài hạn giống như cơ chế miễn dịch được kích thích khi tiêm vắc-xin. Cụ thể là, 1 Làm việc linh hoạt; 2 Đầu tư nhiều hơn vào công nghệ; 3 Khả năng phục hồi và nhanh nhẹn tốt hơn; 4 Những phương thức mới để phục vụ khách hàng; 5 Bộ máy vận hành tinh gọn hơn; và 6 Sự tham gia của cộng đồng và xã hội. Một số đặc điểm của hiện tại sẽ hỗ trợ tốt nhất do doanh nghiệp trong dài hạn Bên cạnh đó, những thay đổi hành vi tiêu dùng cũng tác động không nhỏ đến việc định hình thị trường F&B giai đoạn “sống chung an toàn với COVID-19”. Khảo sát người tiêu dùng của Vietnam Report cho thấy đại dịch đã dịch chuyển các ưu tiên trong thói quen tiêu dùng sang các mặt hàng thiết yếu. Trong đó, thực phẩm nhập khẩu và phần lớn nhóm đồ uống ghi nhận mức giảm trong chi tiêu hàng tháng. Một số nhóm sản phẩm có mức tiêu thụ tăng trong ngắn hạn nhưng sẽ giảm khi có miễn dịch cộng đồng bao gồm thực phẩm đã sơ chế hoặc chế biến sẵn, thực phẩm đông lạnh, thực phẩm tiện lợi, đóng gói… Xu hướng gia tăng tiêu dùng thực phẩm – đồ uống trong chi tiêu hàng tháng Những thay đổi trong chi tiêu cho thấy người tiêu dùng Việt Nam đã trở nên thận trọng hơn giữa bối cảnh đại dịch, cũng như thay đổi thói quen tiêu dùng từ bên ngoài sang tại nhà. Có tới 75% số người tham gia khảo sát của Vietnam Report đã tăng chi tiêu cho thực phẩm tự chế biến tại nhà kể từ khi COVID-19 bùng phát, 46% trong số đó dự kiến tiếp tục duy trì thói quen này khi có miễn dịch cộng đồng. Đại địch đã khiến người tiêu dùng Việt Nam dần tiếp nhận các sàn thương mại điện tử, kênh mua hàng trực tuyến nhanh hơn. Trên 91% lượng người tiêu dùng tham gia khảo sát của Vietnam Report cho biết đã từng sử dụng kênh trực tuyến để mua sản phẩm thực phẩm – đồ uống kể từ khi đại dịch bùng phát. Ở một số danh mục sản phẩm cụ thể, khảo sát cũng chỉ ra đã có một luồng dịch chuyển rõ nét từ thương mại truyền thống sang các kênh trực tuyến, đặc biệt là nhóm thực phẩm Hình 6. Xu hướng dịch chuyển sang kênh mua hàng trực tuyến Để ứng phó với những khó khăn trước mắt cũng như chuẩn bị cho việc quay trở lại hoạt động bình thường, doanh nghiệp F&B phát triển các chiến lược toàn diện liên quan đến Quản trị vận hành, Chiến lược sản phẩm, Tương tác khách hàng và Ứng dụng công nghệ. Top 10 chiến lược ưu tiên của doanh nghiệp F&B Là ngành công nghiệp có yêu cầu về xoay vòng vốn nhanh, dĩ nhiên, tăng trưởng doanh thu là ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp F&B. Động lực tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp F&B dự kiến đến từ thị trường nội địa 88%, kênh phân phối truyền thống 86%, và danh mục sản phẩm cốt lõi có trước COVID-19 69%. Mặc dù các kênh thương mại điện tử/trực tuyến hứa hẹn mang đến cho người tiêu dùng sự tiện lợi và giá cả cạnh tranh hơn, nhưng việc thiếu một hệ sinh thái logistics toàn diện vẫn tiếp tục là một trở ngại trong việc thúc đẩy người tiêu dùng sử dụng các kênh thương mại điện tử/trực tuyến nhiều hơn. Do vậy, doanh nghiệp trong ngành cần phát triển các chiến lược tiếp cận thị trường bằng việc xây dựng nhiều kênh bán hàng, từ đó phát triển mô hình bán hàng đa kênh omnichannel, đồng thời nỗ lực khắc phục các vấn đề tồn tại của việc bán hàng qua các sàn thương mại điện tử như logistics, vận chuyển, hoặc thu hút khách hàng. Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, người tiêu dùng Việt Nam bày tỏ mong muốn có trải nghiệm mua sắm customer journey tốt hơn, thậm chí mong muốn này được ưu tiên hơn cả các chương trình giảm giá sâu hoặc khuyến mại lớn. Với mục đích nâng cao trải nghiệm khách hàng, để từ đó gia tăng sự trung thành của khách hàng, các doanh nghiệp trong ngành sẽ cần gia tăng tương tác với khách hàng, hiểu rõ hơn về những vướng mắc, khó khăn của họ để từ đó thiết kế những chương trình khách hàng thân thiết hợp lý và hiệu quả hơn trong bối cảnh mới. Xây dựng thương hiệu F&B trong bối cảnh “sống chung an toàn với COVID-19” Như đã phân tích ở trên, những thay đổi trong chi tiêu của người tiêu dùng Việt Nam phản ánh sự dịch chuyển của các ưu tiên trong thói quen tiêu dùng sang các sản phẩm thiết yếu, giảm chi tiêu cho các sản phẩm tùy ý. Trong cùng danh mục sản phẩm, khảo sát của Vietnam Report chỉ ra rằng, cứ 10 người thì có đến 4 người đã từng chuyển sang dùng một nhãn hiệu sản phẩm mới hoặc thay thế sản phẩm mà họ thường mua trong thời gian bùng phát COVID-19. Nguyên nhân chính là do tính không sẵn có của sản phẩm thường dùng trong giai đoạn giãn cách xã hội 61%. Điều này cho thấy xu hướng linh hoạt, dễ chấp nhận trong việc lựa chọn nhãn hiệu của người tiêu dùng trong bối cảnh “sống chung an toàn với COVID-19”. Khảo sát người tiêu dùng của Vietnam Report chỉ ra rằng, bên cạnh tính đa dạng và sẵn có của sản phẩm, uy tín thương hiệu là yếu tố họ ưu tiên xem xét khi lựa chọn thực phẩm - đồ uống. Top 5 lý do người tiêu dùng lựa chọn nhãn hiệu thực phẩm – đồ uống Câu hỏi đặt ra là Xây dựng thương hiệu uy tín có khó không? Xây dựng một thương hiệu mạnh cần mất nhiều thời gian. Để có thể giành được sự tín nhiệm và tôn trọng từ khách hàng, doanh nghiệp cần cho thấy rằng cam kết với khách hàng là lẽ sống còn của mình. Để xây dựng được thương hiệu mạnh, doanh nghiệp cần phát triển đồng thời 7 khía cạnh sau Sản phẩm, Đổi mới, Môi trường làm việc, Trách nhiệm xã hội, Năng lực quản trị, Khả năng lãnh đạo và Kết quả kinh doanh, chứ không phải chỉ 1 hoặc 2 khía cạnh. Đánh giá uy tín của doanh nghiệp F&B cần quan tâm đến tất cả các bên liên quan như người tiêu dùng, đối tác, đối thủ cạnh tranh, nhà đầu tư, nhà phân phối, nhân viên trong chính doanh nghiệp đó… Thời mà doanh nghiệp gây dựng uy tín chỉ dựa vào sản phẩm tốt đã qua rồi, ngày nay, việc định nghĩa doanh nghiệp của bạn là ai quan trọng hơn việc doanh nghiệp bạn bán gì. Theo nhận định của Vietnam Report, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc kết nối trực tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận diện thương hiệu uy tín tốt hơn khi đưa ra quyết định mua sắm. Kết quả phân tích truyền thông cho thấy, sự hiện diện trên truyền thông của các doanh nghiệp F&B ngày càng được cải thiện. Khoảng 82,6% số doanh nghiệp được nghiên cứu có lượng thông tin đạt ngưỡng nhận thức xem thêm box ghi chú, trong đó 61,7% có tần suất xuất hiện tối thiếu 1 lần/ 1 tháng. Về độ đa dạng thông tin, 40% số doanh nghiệp có thông tin bao phủ 10/24 số nhóm chủ đề có liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp. 4 nhóm chủ đề thường được đề cập đến nhiều nhất bao gồm Sản phẩm 17,2%; Hình ảnh/PR/Scandals 15,4%; Tài chính/ Kết quả kinh doanh 12,0%; và Xã hội/Trách nhiệm xã hội/Tài trợ 10,6%. Cơ cấu thông tin về các chủ đề khác trong tổng số 24 nhóm chủ đề bao phủ không nhiều, đều chiếm tỷ lệ dưới 10%. Đáng chú ý, so với năm trước, lượng thông tin liên quan đến chủ đề Xã hội/Trách nhiệm xã hội/Tài trợ tăng gần gấp đôi cho thấy doanh nghiệp trong ngành đã chú trọng nhiều hơn đến việc phát triển thương hiệu toàn diện dựa trên 7 khía cạnh đã đề cập phía trên. Theo nhận định của Vietnam Report, tỷ lệ thông tin liên quan đến nhóm chủ đề Xã hội/Trách nhiệm xã hội được cho là hiệu quả nếu đạt trên 3% tổng số thông tin được mã hóa. Tuy nhiên, chỉ có 6,1% số doanh nghiệp F&B đạt được ngưỡng hiệu quả này. Điều này cho thấy doanh nghiệp trong ngành cần phải tích cực đẩy mạnh công tác truyền thông liên quan đến trách nhiệm xã hội hơn nữa. Top 4 nhóm chủ đề xuất hiện nhiều trên truyền thông Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là "an toàn" khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng "tốt nhất" là trên 20%. Trong ngành Thực phẩm - Đồ uống, hiện có khoảng 47,8% số doanh nghiệp đạt mức 10% này, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước 45,5%. Kết quả phân tích truyền thông cũng chỉ ra rằng, tần suất xuất hiện trên truyền thông dày đặc chưa hẳn đã đạt được hiệu quả về chất lượng thông tin, buộc doanh nghiệp trong ngành phải thực sự quan tâm hơn đến bài toán “lượng” và “chất” Hình 10. Những doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống thu hút truyền thông nhiều nhất Bên cạnh đó, cũng cần nhấn mạnh rằng, sức mạnh truyền thông không chỉ thể hiện ở tần suất xuất hiện, độ đa dạng hay chất lượng thông tin mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác, trong đó bao gồm nguồn thông tin. Tỷ lệ thông tin có nguồn từ doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 17,6%. Điều này cho thấy các doanh nghiệp trong ngành còn khá dè dặt với truyền thông khi để phần lớn lượng thông tin cho báo chí tự khai thác. Đây cũng là bài toán khó cho các doanh nghiệp đặc biệt trong bối cảnh công nghệ hiện đại và thông tin đa chiều như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực sự vào cuộc và tăng cường tiếng nói của chính mình trên truyền thông. Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống là kết quả nghiên cứu độc lập của Vietnam Report được công bố từ năm 2017. Từ năm 2012, Vietnam Report đã sử dụng phương pháp Media Coding mã hóa dữ liệu báo chí để tính điểm uy tín của các doanh nghiệp trên truyền thông. Kể từ đó đến nay, nhiều bảng xếp hạng Top 10 thuộc các ngành trọng điểm và có tiềm năng tăng trưởng cao của Việt Nam cũng đã được định kỳ công bố thường niên như Bất động sản, Xây dựng, Công nghệ thông tin, Ngân hàng, Bảo hiểm, Dược, Du lịch, Doanh nghiệp niêm yết. Phương pháp nghiên cứu phân tích truyền thông để đánh giá uy tín của các công ty dựa trên học thuyết Agenda Setting về sự ảnh hưởng, tác động của truyền thông đại chúng đến cộng đồng và xã hội được 2 giáo sư Maxwell McCombs và Donald L. Shaw chính thức công bố vào năm 1968, được Vietnam Report và các đối tác hiện thực hóa và áp dụng. Theo đó, Vietnam Report đã sử dụng phương pháp Branch Coding đánh giá hình ảnh của công ty trên truyền thông để tiến hành phân tích uy tín của các công ty thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam. Vietnam Report tiến hành mã hóa coding các bài báo viết về ngành thực phẩm - đồ uống được đăng tải trên các đầu báo có ảnh hưởng trong thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng 7/2021. Các bài báo được phân tích và đánh giá ở cấp độ câu chuyện story - level về 24 khía cạnh hoạt động cụ thể của các công ty từ sản phẩm, kết quả kinh doanh, thị trường... tới các hoạt động và uy tín của lãnh đạo công ty. Các thông tin được lựa chọn mã hóa coding dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản Tên công ty xuất hiện ngay trên tiêu đề của bài báo, hoặc tin tức về công ty được đề cập tối thiểu chiếm 5 dòng trong bài báo, đây được gọi là ngưỡng nhận thức - khi thông tin được đánh giá là có giá trị phân tích. Các thông tin được đánh giá ở các cấp độ 0 Trung lập; 1 Tích cực; 2 Khá tích cực; 3 Không rõ ràng; 4 Khá tiêu cực; 5 Tiêu cực. Tuy nhiên, thống kê lại, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 cấp bậc để đánh giá cuối cùng, bao gồm Trung lập gồm 0 và 3, tích cực 1 và 2, và tiêu cực 4 và 5. Những nhận định trong thông cáo mang tính tổng quát và tham khảo cho các doanh nghiệp, đối tác; không phải nhận định cá nhân và không phục vụ mục đích hay nhu cầu của bất cứ nhà đầu tư cụ thể nào. Do đó, các bên liên quan nên cân nhắc kỹ tính phù hợp của các thông tin trên trước khi sử dụng để đưa ra quyết định đầu tư và hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc sử dụng các thông tin đó.
thị trường đồ uống việt nam